Đến thăm các di tích lịch sử, đình, chùa, miếu mạo, các công trình tín ngưỡng,… ta thấy choáng ngợp bởi các pho tượng phật, các hoành phi câu đối,… lấp lánh ánh vàng, ánh bạc. Trên các tác phẩm đó, người ta đã phủ lên một chất liệu đặc biệt: các lá vàng quì, bạc quì. Mặt hàng đặc biệt đó được làm ra tại làng Kiêu Kỵ.

Kiêu Kỵ là làng nghề truyền thống thuộc đất Đông Ngàn, kinh Bắc xưa, làng duy nhất ở Việt Nam chuyên làm vàng quì, bạc quì, nay thuộc xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Nghề này có lịch sử trên 400 trăm năm do danh nhân Nguyễn Quý Trị truyền dạy.

Đến Kiêu Kỵ hôm nay, từ xa đã nghe tiếng âm vang khúc nhạc đập quì khoan mau, vang qua lũy tre làng, trải trên các cánh đồng suốt ngày không dứt.

Vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm, làng vào đám, mở hội nghề khai xuân và lễ cúng tổ nghề.

Kiêu Kỵ còn là quê hương của lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn. Đầu thế kỷ 18, dòng họ Vũ Nguyên của ông đã dựng một xưởng làm vàng quì lớn, được ghi chép trên văn bia hiện còn lưu giữ ở làng.

Chúng tôi đến làng Kiêu Kỵ vào một ngày cuối năm, rất may mắn cho chúng tôi được gặp một trong hai nghệ nhân của làng là ông Lê Bá Chung. Được biết năm 2004, nhân dịp kỷ năm 50 năm ngày giải phóng thủ đô, làng Kiêu Kỵ lần đầu tiên được Nhà nước phong tặng danh hiệu nghệ nhân nghề dát vàng quì, bạc quì cho hai thợ giỏi là ông Lê Văn Vòng và Lê Bá Chung.
Ông Chung đã dẫn chúng tôi vào thăm Nhà Tràng(nơi thờ tổ nghề). ở đây ông Chung đã cung cấp cho chúng tôi một số thông tin về cụ tổ truyền nghề cũng như lịch sử Nhà Tràng. Trên hương án bàn thờ tổ có bức họa chân dung cụ tổ do một người cao tuổi trong làng vẽ năm 1994. Cụ tổ nghề sinh vào ngày tháng năm nào thì không ai nhớ rõ mà chỉ nhớ ngày mất của cụ là ngày 17 tháng 8 âm lịch. Hằng năm cứ vào ngày này dân làng mở hội, tế lễ, cúng bái đức thần tổ nghề. Hiện ở hậu cung đình làng có đặt tượng vị sư tổ nghề Nguyễn Quý Trị, tượng được dựng vào năm 1996 theo bức họa mà một người cao tuổi trong làng hình dung về cụ vẽ ra. Nhà Tràng theo chữ Hán là nhà Trường, trường dạy học nghề, ở đây dưới con mắt của các nhà nghiên cứu lịch sử thì đây vừa là nơi dạy nghề vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của làng nghề.

Nghề dát vàng quì, bạc quì đòi hỏi xự tỉ mỉ tinh xảo. Từ những chỉ vàng thật, thỏi bạc thật được đập cho dài và mỏng gọi là đập diệp rồi cắt thành những mảnh nhỏ có bề ngang từ 0,4 đến 0,8 cm2. Những mảnh nhỏ này được đặt vào những lá quì(màu đen) hình vuông có cạnh dài khoảng 4cm. Những lá quì màu đen gọi là lá giống được kén từ loại giấy dó làm tranh Đông Hồ mỏng và dai được quét thêm một lớp mực tự chế làm từ loại bồ hóng đặc biệt trộn với keo da trâu. Những mảnh vàng, bạc nhỏ được đặt vào giữa những lá quì xếp thành một tập khoảng 500 lá mỗi loại gọi là long quì. Tiếp theo là khâu đập quì: Những tập quì sau khi sấy trong lồng cho nóng được đem ra đập cho mỏng. Loại búa đập quì không giống như những chiếc búa thông thường, mặt của nó không phẳng mà vát một góc( bên phải hay bên trái tùy thuộc vào tay thuận của người thợ). Cán búa kén loại gỗ tốt là gỗ sưa dẻo và nhẹ. Trong làng có cụ Lê Văn Thân chuyên làm cán búa là một trong những người làm nghề dát vàng quì lâu năm (là bố của nghệ nhân Lê Văn Vòng).Những lá vàng, lá bạc sau khi được đập cho mỏng và rộng ra bằng lá giống (lá quì màu đen) lại được xếp vào những lá giấy dó mỏng thành từng buộc nhỏ mỗi buộc 50 lá vàng hoặc bạc xen kẽ 50 lá giấy. Sản phẩm hoàn chỉnh gọi là quì. Một quì gồm có 10 buộc nhỏ buộc lại với nhau.

Quì vàng được phong bằng một miếng giấy màu đỏ ở ngoài, còn quì bạc được phong bằng giấy màu trắng. Sản phẩm được dùng cho thếp tượng, đồ thờ, hoành phi câu đối, vẽ tranh,…
Nghề sơn son thếp vàng đã hình thành ở làng ngay từ khi có nghề dát vàng quì, bạc quì tuy nhiên nó đã bị mai một từ khoảng những năm 50 của thế kỷ thứ 20. Năm 2003, hai nghệ nhân của làng là Lê Văn Vòng và Lê Bá Chung cùng với một số thợ giỏi của làng nghề mang nhiệt huyết, mang công sức của cải riêng khôi phục và phát triển nghề sơn son thếp vàng cũng như nghề dát vàng của Kiêu Kỵ. Như thế làng nghề đã được khôi phục hoàn chỉnh với hai nghề truyền thống đó là dát vàng quì, bạc quì và sơn son thếp vàng. Sản phẩm vàng quì, bạc quì làm ra được đưa vào sơn thếp ngay tại làng mà không phải tìm nơi tiêu thụ như những năm trước đây.

Để làm ra đồ sơn son thếp vàng, người thợ sơn phải trải qua các khâu chọn, xử lý, tạo hoa văn, sơn.

Điều quan trọng là khâu chọn gỗ. Gỗ thường dùng gỗ mít lâu năm không lấy phần sâu mọt. Sở dĩ nên chọn gỗ mít vì gỗ mít có độ dẻo cao khi khô ít nứt và cong vênh, gỗ mít cũng khó bị mối mọt. Khâu xử lý cũng rất cầu kỳ, sau khi lựa chọn các cây gỗ mít tốt thì ngâm trong nước vôi 6 tháng rồi vớt lên phơi khô. Tạo dáng sản phẩm tùy theo nhu cầu của thị trường hay đơn đặt hàng của khách. Các sản phẩm làm hoàn toàn thủ công nên đòi hỏi sự khéo léo. Nét đục trạm toát lên vẻ uy nghi của đồ thờ, phải sinh động, có hồn của con vật hoặc hình dáng, chi tiết,…

Kỹ thuật sơn thếp cũng rất cầu kỳ. Có 3 loại sơn được dùng trong nghề sơn son thếp vàng là sơn điều đen, sơn điều đỏ và sơn son. Chỉ riêng việc sơn lót cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt qui trình: sơn lót phải đều tay tránh để đọng sơn sau đó để khô, sơn lại cho đến lần thứ 8. Vàng khi thếp vào phải có độ bóng cao. Sau khi thếp vàng hoặc bạc xong vệ sinh sạch sẽ bụi bẩn, để khô khoảng 5 -7 ngày. Sau đó sơn phủ, tác động của hóa chất tạo ra một màu vàng lung linh.

Hiện ở Kiêu Kỵ có gần 100 gia đình chuyên kinh doanh vàng quì, bạc quì, sơn son thếp vàng thì chỉ có một vài gia đình có kinh nghiệm như hai nghệ nhân của làng là ông Lê Văn Vòng và Lê Bá Chung, hợp tác xã công nghiệp quì vàng. Nhiều hộ sản xuất với qui mo lớn, có tới 20 thợ làm việc. Nhờ vậy, hàng trăm thanh niên khi rời khỏi trường phổ thông và vài trăm lao động nữ có công ăn việc làm và thu nhập ổn định. Kiêu Kỵ còn thu hút nhiều nhân lực khắp nơi, đem lại việc làm và thu nhập cho rất nhiều lao động quanh vùng, đóng góp vào sự phát triển chung của kinh tế đất nước.

Hiện nay sản phẩm của Kiêu Kỵ ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các sản phẩm truyền thống, Kiêu Kỵ còn sản xuất ra nhiều sản phẩm dùng cho đồ sơn mài, các sản phẩm đó không chỉ tiêu dùng trong nước mà còn được xuất khẩu ra nhiều nước Châu á, Châu Âu,…
Chúng tôi chia tay với những người thợ làng Kiêu Kỵ và nghệ nhân Lê Bá Chung trong khi vẫn còn rất nhiều điều mà chúng tôi còn muốn tìm hiểu về làng nghề độc đáo duy nhất của nước Việt Nam này. Ông Chung lấy một con giống nhỏ bằng gỗ thếp vàng tặng cho chúng tôi như một kỷ niệm với những nhà báo tương lai. Và đó cũng chính là lời khẳng định tâm huyết của ông với việc đã phục dựng được nghề sơn son thếp vàng đã mai một hơn năm mươi năm qua.